NGƯỜI ANH HÙNG DÂN TỘC HỌ VÕ MANG TRONG MÌNH TRUYỀN THỐNG NHÂN HẬU, TRÍ TUỆ
Tác giả : GS.TSKH.NGND. Vũ Minh Giang

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng lỗi lạc đã chỉ huy đánh thắng những đạo quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới được thừa nhận là một trong những vị tướng vĩ đại nhất của mọi thời đại.
Đã có rất nhiều tác phẩm trong và ngoài nước ca ngợi về tài cầm quân, về nghệ thuật chỉ huy và về nhân cách cao đẹp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong bài viết này, tôi xin chỉ đề cập đến khía cạnh giá trị cốt lõi nhân hậu - trí tuệ của dòng họ Vũ - Võ kết tinh trong con người Đại tướng và được nâng lên một tầm cao, trở thành niềm tự hào dân tộc và sự ngưỡng mộ của thế giới. Do có may mắn từng được trực tiếp gặp gỡ và làm việc với Đại tướng nên trong bài viết này tôi cũng xin phép được nhắc lại một số kỷ niệm để minh họa thêm những nhận định về nhân cách của một vị tướng đầy trí tuệ và lòng nhân ái.
Vũ và Võ chỉ là hai cách phát âm danh xưng của một dòng họ có gốc tích ở làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang (xưa là huyện Đường An), một vùng đất có truyền thống hiếu học và trọng học. Sau này dòng họ Vũ - Võ lan tỏa đi mọi miền của đất nước, nhưng chỉ dấu nhận diện vẫn là truyền thống học giỏi, đỗ đạt cao. Dưới thời Hoàng đế Lê Thánh Tông, một trong những vị minh quân của thời đại hoàng kim, hết lòng trọng dụng các bậc hiền tài đã nổi lên Vũ Hữu được sử sách vinh danh là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam với công trình Lập thành toán pháp giúp triều đình tính toán ngân khố, thực thi việc đo đạc, quản lý ruộng đất và xây dựng các công trình lớn ở Hoàng thành Thăng Long. Một danh sĩ họ Vũ khác cũng đã tham gia đóng góp trong thời đại hoàng kim này là Vũ Quỳnh, người nổi tiếng trên lĩnh vực văn học và sử học đã có công lớn trong việc tập hợp, chú giải các truyền thuyết dân gian thời Hùng Vương làm cơ sở cho các nhà sử học đưa thời Hùng Vương từ truyền thuyết vào chính sử.
Không chỉ được biết đến như một dòng họ có truyền thống nhân văn và đóng góp nhiều về lĩnh vực từ chương và khoa học, họ Vũ - Võ còn sản sinh ra những nhà quân sự có tài. Trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, thời nào cũng có danh tướng họ Vũ - Võ. Trong bài viết ngắn này chỉ xin dẫn ra ba trường hợp các vị tướng lĩnh, chỉ huy quân sự có tài năng xuất chúng và thể hiện rõ những tố chất là những người con họ Vũ - Võ.
Trước hết xin nói về Vũ Nạp. Ông xuất thân từ làng Mộ Trạch, vốn là người giỏi chữ nghĩa. Khi quân Mông Cổ đến xâm lược vào năm 1258, ông được cử đến trấn giữ vùng Hải Đông. Trong gần 30 năm cai quản vùng đất này, ông đã có công lớn trong việc tổ chức dân khai hoang, lập ấp khiến cho cư dân vùng duyên hải quan yếu ngày trù mật. Nhưng điều mà nhân dân và sử sách luôn ca ngợi ông như một thánh tướng chính là nhờ chiến công ông đã cùng với tướng Trần Quốc Bảo lập nên trong chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Để có thể điều được đại quân giặc vào bãi cọc phải bằng mọi giá đánh chặn không cho chúng theo đường sông Giá. Nhiệm vụ vô cùng khó khăn này Trần Quốc Tuấn đã giao cho 2 tướng Trần Quốc Bảo và Vũ Nạp. Vì thế giặc mạnh, lực lượng quân ta lại mỏng nên khi quân Nguyên tiến vào sông Giá, trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Chánh tướng Trần Quốc Bảo tử trận, ông đã phải đảm đương vị trí của người tổng chỉ huy. Trước tình thế lực lượng chênh lệch quá lớn, với trí tuệ của một người hiểu biết sâu rộng, Vũ Nạp đã kết hợp động viên các chiến binh tử chiến để hoàn thành nhiệm vụ với việc dùng mưu kế. Là người được nhân dân địa phương biết ơn và mến mộ, ông đã huy động nhân dân tham gia vào mưu kế này. Ông huy động dân quanh vùng gom hàng nghìn mo cau thả xuống khúc sông quân Nguyên sẽ đi qua và cho dân chúng nấp hai bên bờ hô hét thật to, gõ phèng la dậy trời khiến quân Nguyên nhầm tưởng có rất nhiều quân Trần mai phục phía trước mà chùn chân không dám tiến, buộc phải quay lại ra biển theo đường quân ta đã định. Kết cục là cánh quân do Vũ Nạp chỉ huy đã hoàn thành sứ mệnh được Quốc công tiết chế giao cho, buộc hơn 600 đại chiến thuyền của địch phải quay trở lại đường sông Đá Bạc rồi bị lùa vào trận địa bãi cọc để phục binh đánh tan tành.
Người thứ hai xin được nói tới là một danh tướng của Quang Trung, Đại đô đốc Võ Văn Dũng. Sát cánh cùng các thủ lĩnh Tây Sơn ngay từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa, Võ Văn Dũng cùng với Trần Quang Diệu luôn như hai cánh tay đắc lực của Nguyễn Huệ và hầu như có mặt trong tất cả các chiến dịch quan trọng của quân Tây Sơn. Hoàng đế Quang Trung thường nói Võ Văn Dũng là tâm phúc của ông. Ông là danh tướng được phong đến chức Đại Đô đốc, trong chính quyền trong hàng quan văn ông được phong đến Đại Tư đồ. Ngoài tài thao lược về quân sự, ông còn là một nhà ngoại giao. Ngay sau khi đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), lường trước tình huống địch cay cú sẽ đem quân quay lại trả thù, Hoàng đế Quang Trung đã cử ngay một phái bộ ngoại giao do Võ Văn Dũng sang thương thảo để phần nào khiến Thiên triều bớt bẽ mặt. Kết quả là tài ngoại giao khôn khéo của Võ Văn Dũng đã “giúp” cho nhà Thanh có cớ từ bỏ một cuộc chiến phục thù. Qua lần tiếp xúc này, Võ Văn Dũng đã mục kích sở thị sự khiếp nhược của quân Thanh trước nghĩa quân Tây Sơn. Đây chính là lý do Hoàng đế Quang Trung cử ông đi sứ lần thứ hai với những đòi hỏi cứng rắn. Tiếc rằng, những yêu sách của nhà Tây Sơn đang diễn biến theo chiều hướng có lợi cho Việt Nam thì Quang Trung qua đời.
Nhân vật họ Võ thứ ba xin được nhắc tới là Võ Duy Dương (trong sử sách thường gọi là Thiên Hộ Dương). Ông vốn là người Bình Định vào khai hoang ở Đồng Tháp Mười, được triều đình phong chức Thiên hộ. Là một võ quan nhưng ông rất yêu thích văn chương nên đã kết bạn thân với Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân). Khi triều đình nhà Nguyễn ký Hàng ước 1862, ông đã cùng với Nguyễn Hữu Huân liên kết với Trương Định tổ chức đánh Pháp. Hiểu được tình thế bất lợi về lực lượng và thái độ khiếp nhược của nhà Nguyễn, ông đã vận dụng trí tuệ viết ra kế sách dùng mưu giành lại 3 tỉnh miền Đông. Tiếc rằng kế hoạch chưa được thực hiện thì ông bị chết trên đường ra kinh đô Huế.
Có thể kể ra nhiều nữa các nhà chỉ huy quân sự mang họ Vũ - Võ đã từng có đóng góp vào sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc. Ở mức độ khác nhau họ đều có nét tương đồng với ba nhân vật nói trên. Đó là trước khi tham gia vào lĩnh vực quân sự, họ là những người học hành đỗ đạt, thích chữ nghĩa, yêu văn chương. Khi trở thành người cầm quân thường dùng trí tuệ để bày mưu kế diệt giặc chứ không đơn thuần chỉ là dụng binh tác chiến.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp mang trong mình truyền thống văn võ toàn tài của dòng họ Vũ - Võ. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn được nuôi dưỡng trong một gia đình có nếp sống thanh cao, với cha, mẹ đều là những người giàu lòng nhân ái và yêu nước, dạy dỗ con cái rất nghiêm cẩn. Thân phụ Đại tướng là cụ Võ Quang Nghiêm, một hương sư nghèo làm thêm nghề thầy thuốc trong làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cụ thường nói về phong trào kháng Pháp qua bài vè “Thất thủ kinh đô” gây những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí Đại tướng. Thân mẫu Đại tướng là cụ bà Nguyễn Thị Kiên, xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm. Ông ngoại Đại tướng là một thủ lĩnh trong phong trào Cần Vương đứng đầu một tỉnh. Khi còn nhỏ tuổi Đại tướng đã được mẹ kể cho nghe những câu chuyện về quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết phò vua xuống chiếu Cần Vương, hiệu triệu các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ đất nước. Chính những ảnh hưởng gần gũi mà sâu sắc ấy đã góp phần hun đúc ý chí kiên cường cho sự nghiệp cách mạng sau này của Đại tướng.
Cuộc gặp lịch sử với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào năm 1940 đã quyết định hướng đi của cuộc đời ông. Từ rất sớm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra tư chất, trí tuệ, tài năng cũng như nhân cách của Võ Nguyên Giáp rất phù hợp với một đạo quân mà Người muốn xây dựng để giành và giữ chính quyền cách mạng. Đấy là một quân đội phải biết dựa vào dân để có sức mạnh, phải chiến thắng quân thù không chỉ bằng vũ khí và tài quân sự thao lược mà phải bằng cả trí tuệ và văn hóa. Người đứng đầu quân đội ấy phải văn võ song toàn, kiến thức uyên bác và giàu lòng nhân ái. Năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chính thức được trao trách nhiệm thành lập lực lượng vũ trang cách mạng mang tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Từ đó trên cương vị người đứng đầu quân đội, Võ Nguyên Giáp đã trở thành vị tướng bách chiến bách thắng. Cùng với thiên tài quân sự, không khó để nhận ra ông là vị tướng của trí tuệ và lòng nhân ái, được kết tinh từ những truyền thống cao đẹp của dân tộc, quê hương và dòng họ.
Là tướng Võ nhưng lại lấy bí danh là Văn đã thể hiện rõ cốt cách của một trí thức đầy tính nhân văn. Đại tướng là người đầu tiên chỉ đạo các nhà sử học cần phải có tiếp cận văn hóa khi nghiên cứu lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam, thay vì chỉ nhìn từ góc độ quân sự. Năm 1998, tôi có may mắn được giúp GS. Phan Huy Lê tổ chức Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất. Rất vinh dự cho Hội thảo được Đại tướng nhận lời tham gia và đọc tham luận trong phiên toàn thể. Cũng nhờ đó mà tôi lại có cơ hội tới 30 Hoàng Diệu để nghe ý kiến chỉ đạo của Đại tướng. Trong một lần như thế, tôi đã học được một tư tưởng lớn của ông: “Nghệ thuật quân sự Việt Nam là lĩnh vực thuộc phạm trù văn hóa”. Thoạt nghe tôi chưa thật hiểu, nhưng Đại tướng đã ôn tồn giải thích: Văn hóa là tất cả sáng tạo của con người vì mục đích tồn tại và phát triển của cộng đồng. Trong lịch sử Việt Nam, dựng nước luôn đi đôi với giữ nước, liên tục từ đời này sang đời khác chúng ta phải đứng lên cầm vũ khí, đem hết tài năng và trí tuệ ra để bảo vệ độc lập dân tộc. Tất cả những sáng tạo trong lĩnh vực quân sự là vì sự tồn vong của dân tộc, của đất nước, nếu không phải là văn hóa thì là cái gì”. Tôi đã kể điều này với nhiều người và ai cũng đều có chung một suy nghĩ: Đại tướng không chỉ là một danh tướng mà còn là một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa lớn.
Trong quá trình chuẩn bị Hội thảo, chúng tôi còn được Đại tướng giảng giải những điều mà theo ông, là giới Việt Nam học trong nước và quốc tế vẫn chưa tìm ra lời giải đáp thỏa đáng cho lịch sử Việt Nam, thậm chí ông còn nói là “có nhiều sự kiện và thời kỳ chưa thể lý giải”.
Trước hết đó là hiện tượng dân tộc Việt Nam bị mất độc lập, sau đó bị đặt dưới ách cai trị của các triều đại phong kiến mạnh về quân sự, giàu về tiềm lực, cao về trình độ văn minh… trong một thời gian dài hàng nghìn năm mà vẫn không bị đồng hóa. Đó là điều mà theo Đại tướng, có một không hai trong lịch sử nhân loại, cần phải đặt ra để tiếp tục nghiên cứu để lý giải.
Thứ hai, đó là sức mạnh kỳ diệu của dân tộc Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Hầu như tất cả những đạo quân đến xâm lược nước ta trong lịch sử đều rất hùng mạnh và hung hãn, trong đó có những đạo quân được coi là có khả năng làm khuynh đảo thế giới. Ở thế kỷ XIII là đội quân Nguyên - Mông, một đội quân đã chinh phục khắp lục địa Á - Âu tạo ra một đế chế có lãnh thổ liền nhau lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Đội quân ấy đã thất bại ba lần trước dân tộc Việt Nam. Đại tướng nói, không thể lý giải một cách đơn giản hiện tượng này. Có hiểu thật sâu sắc lịch sử mới có thể lý giải được vì sao ta thắng đề quốc Mỹ, một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, một thế lực mà trước khi bị thất bại trong chiến tranh Việt Nam, bất kỳ một quốc gia nào, kể cả những nước được coi là cường quốc cũng phải e ngại, né tránh.
Những lời chỉ bảo của Đại tướng cho tôi cảm giác được thụ giảng một nhà sử học uyên bác và bất giác trong tôi trào lên niềm tự hào khó tả. Ngoài tư chất thiên bẩm, tất cả những gì Đại tướng có còn là sự dày công tích lũy kiến thức trong trường học và học trong thực tế. Ông từng là sinh viên của Đại học Đông Dương, tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội, cái nôi nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài. Niềm tự hào còn ở chỗ, Đại tướng yêu sử và chọn lịch sử làm nghề. Ông thường nói, nếu không có chiến tranh mình làm nghề dạy sử. Có lẽ vì vậy mà ông đã nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Giới sử học cả nước coi đây là một niềm vinh dự lớn lao. Chất trí thức, chất nhân văn của Đại tướng có lẽ một phần cũng có căn cốt từ đây.
Có một chuyện cho tôi ấn tượng cực kỳ sâu sắc là lần được trực tiếp nghe Đại tướng kể lại vì sao có quyết định lấy phương châm “đánh chắc, tiến chắc” thay cho “đánh nhanh, thắng nhanh”. Cả thế giới biết đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Tôi cũng đã thuộc nằm lòng nhiều chi tiết về sự kiện lịch sử vĩ đại này, trong đó rất tâm đắc với tư tưởng chắc thắng và quyết định chọn phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Xưa nay tôi chỉ hiểu đơn giản đây là một quyết định sáng suốt đạt tới mức nghệ thuật của một thiên tài quân sự. Hóa ra, điều khiến Đại tướng phải nhiều đêm thức trắng để đi tới quyết định này không đơn thuần chỉ ở hai chữ “chắc thắng” mà lại bởi ông xót máu xương của chiến sĩ. Hiếm có vị danh tướng nào lại có tấm lòng nhân ái, thương lính như thế, bởi “nhất tướng công thành vạn cốt khô” (để một ông tướng thành danh có sự hy sinh của hàng vạn người) là triết lý được chấp nhận, là quy luật của chiến tranh. Có lẽ từ cái tâm của Đại tướng như vậy, lòng nhân ái của Đại tướng như vậy nên sau khi chiến tranh kết thúc ông suy nghĩ nhiều đến văn hóa.
Năm 1972 khi Mỹ dùng máy bay B.52 ném bom Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội, tôi đang đóng quân ở Quảng Bình, có một chuyện mà tôi không bao giờ quên. Một hôm, trong khi làm nhiệm vụ thu thập tin tức từ các đài phương Tây, có một thông tin làm tôi choáng váng, toàn thân gần như tê liệt. Tôi không tin vào tai mình nữa. Rồi không phải một mà nhiều đài nước ngoài thay nhau truyền đi tin dữ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tử nạn vì bom B.52 trong một chuyến đi thị sát trận địa tên lửa... Không ai trong chúng tôi tin điều này (hay nói đúng hơn là không muốn tin), nhưng không hiểu sao tất cả đều bật khóc, khóc nức nở như mất người thân thiết nhất của chính mình. Chắc Trung ương biết điều này nên chỉ ngay ngày hôm sau trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam liên tục phát đi tin Đại tướng đi kiểm tra các đơn vị… Niềm vui đến với chúng tôi thật khôn xiết, thậm chí niềm vui còn biến thành tinh thần lạc quan như ta sắp giải phóng miền Nam đến nơi rồi. Thế mới biết Đại tướng có vị trí như thế nào trong lòng những người lính.
Đúng mười năm sau (1982) tại Matxcơva tôi có vinh dự được gặp Đại tướng trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Khi ấy, tôi được cử sang làm nghiên cứu sinh tại Đại học Lomonoxov. Không hiểu sao, sau buổi gặp chung với đại diện nghiên cứu sinh và thực tập sinh cao cấp, Đại tướng bảo tôi ở lại gặp riêng. Và thật hạnh phúc, trong buổi gặp vô cùng quý giá ấy tôi đã được Đại tướng chỉ bảo, dặn dò và cũng là một cơ may, trong lần gặp mà với tôi là một sự kiện lớn trong đời, tôi đã được tiếp xúc với Đại tướng và cả GS. Đặng Bích Hà, phu nhân của Đại tướng. Điều tôi nhớ đến tận bây giờ là khi kể cho hai vợ chồng Đại tướng về chuyện đơn vị tôi đã khóc như mưa vì tin Đại tướng trúng bom, tôi nghĩ Đại tướng sẽ cười như một chuyện hài hước, nhưng không, Đại tướng thể hiện sự xúc động và nói anh em mình tốt quá, khiến tôi rất ngỡ ngàng. Đại tướng đã thực sự cảm động về một câu chuyện rất thật về tình cảm của những người lính dành cho ông.
Không thể nào nói hết bằng lời về Đại tướng huyền thoại của chúng ta. Đại tướng là một thiên tài quân sự là điều được thừa nhận hiển nhiên. Tài năng ấy đã được nuôi dưỡng bằng truyền thống văn hiến và quật cường của dân tộc, của quê hương Quảng Bình, dòng họ và ảnh hưởng sâu sắc của gia đình, đặc biệt là những ảnh hưởng trực tiếp của song thân phụ mẫu. Thiên tài ấy sớm được tiếp xúc với các bậc chí sĩ có lòng yêu nước nồng nàn và đặc biệt đã được lãnh tụ Hồ Chí Minh dìu dắt, huấn luyện và nâng cánh. Trên thế giới khó lòng tìm thấy một vị danh tướng nào bách chiến bách thắng trước những kẻ thù hung bạo và mạnh hơn gấp nhiều lần, nhưng lại có lòng vị tha nhân ái, giản dị như Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong lịch sử Việt Nam đã có những anh hùng dân tộc hóa thần, hiển thánh như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... Trong tận tâm khảm của mình, tôi nghĩ Đại tướng Võ Nguyễn Giáp sẽ sống mãi và trở thành hình tượng thần thánh trong lòng dân.
LE HÉROS NATIONAL DE LA LIGNÉE VÕ, HÉRITIER D'UNE TRADITION DE BIENVEILLANCE ET DE SAGESSE
Auteur : Professeur, docteur ès sciences, enseignant émérite Vũ Minh Giang

Le général Võ Nguyên Giáp est un commandant d'exception qui a mené à la victoire ses armées contre les envahisseurs les plus puissants du monde ; il est reconnu comme l’un des plus grands généraux de tous les temps.
De nombreux ouvrages, tant au Vietnam qu’à l’étranger, ont rendu hommage au talent militaire, à l’art du commandement et à la noble personnalité du général Võ Nguyên Giáp. Dans cet article, je me limiterai à évoquer les valeurs fondamentales de bienveillance et de sagesse de la lignée Vũ - Võ, qui se sont cristallisées dans la personne du général et ont été portées à un niveau supérieur, devenant une fierté nationale et suscitant l’admiration du monde entier. Ayant eu la chance de rencontrer et de travailler directement avec le général, je me permets également, dans cet article, de rappeler quelques souvenirs afin d’illustrer davantage ces observations sur la personnalité d’un général empreint de sagesse et de bienveillance.
« Vũ » et « Võ » ne sont que deux prononciations différentes du nom d’une lignée originaire du village de Mộ Trạch, dans le district de Bình Giang (anciennement district de Đường An), une région où règnent depuis toujours une tradition d’érudition et le respect du savoir. Par la suite, la lignée Vũ - Võ s’est répandue dans toutes les régions du pays, mais son signe distinctif reste cette tradition d’excellence scolaire et de hauts résultats aux examens. Sous le règne de l’empereur Lê Thánh Tông, l’un des souverains éclairés de l’âge d’or qui s’attachait à valoriser les talents, s’est illustré Vũ Hữu, que les annales honorent comme le premier mathématicien du Vietnam grâce à son ouvrage Lập thành toán pháp, qui a aidé la cour à gérer le trésor public, à effectuer des relevés topographiques, à administrer les terres agricoles et à construire de grands ouvrages dans la cité impériale de Thăng Long. Un autre érudit de la famille Vũ a également contribué à cet âge d’or : Vũ Quỳnh, célèbre dans les domaines de la littérature et de l’histoire, qui a joué un rôle majeur dans la compilation et l’annotation des légendes populaires de l’époque des rois Hùng, permettant ainsi aux historiens de faire passer cette période du statut de légende à celui d’histoire officielle.
Non seulement reconnue pour sa tradition humaniste et ses nombreuses contributions dans les domaines des lettres et des sciences, la famille Vũ - Võ a également donné naissance à des militaires de talent. Tout au long des milliers d’années d’histoire de la nation, chaque époque a compté des généraux de renom portant le nom de Vũ – Võ. Dans ce bref article, je me contenterai de citer trois exemples de généraux et de commandants militaires au talent exceptionnel, qui incarnaient clairement les qualités propres aux descendants de la lignée Vũ – Võ.
Parlons tout d’abord de Vũ Nạp. Originaire du village de Mộ Trạch, il était un grand érudit. Lorsque les armées mongoles envahirent le pays en 1258, il fut chargé de défendre la région de Hải Đông. Au cours de la période de près de 30 ans durant laquelle il administra cette région, il contribua grandement à la mise en valeur des terres et à la création de hameaux, permettant à la population de cette zone côtière stratégique de prospérer. Mais ce pour quoi le peuple et l'historiographie l’ont célébré comme un général d'exception, ce sont les exploits qu’il accomplit aux côtés du général Trần Quốc Bảo lors de la campagne de Bạch Đằng en 1288. Afin de pouvoir attirer la grande armée ennemie vers le champ de pieux, il fallait à tout prix l’empêcher de remonter le fleuve Giá. Trần Quốc Tuấn confia cette mission extrêmement difficile aux deux généraux Trần Quốc Bảo et Vũ Nạp. Face à des forces ennemies puissantes et au faible effectif de nos troupes, la bataille fut particulièrement acharnée lorsque les troupes des Yuan s’engagèrent sur le fleuve Giá. Le général en chef Trần Quốc Bảo ayant été tué au combat, Vũ Nạp dut assumer le commandement suprême. Face à un déséquilibre des forces trop important, grâce à la sagesse d’un homme doté d’une grande érudition, Vũ Nạp combina la mobilisation de guerriers prêts à combattre jusqu’à la mort avec le recours à la ruse. Estimé et admiré par la population locale, il la mobilisa pour mettre en œuvre son stratagème : il demanda aux habitants de rassembler des milliers de gaines d'aréquier pour les jeter dans le bras de rivière que les troupes des Yuan devaient emprunter, tout en se cachant sur les deux rives pour pousser de grands cris et frapper frénétiquement des cymbales. Les troupes des Yuan, croyant à une importante embuscade de l'armée des Trần, n’osèrent pas avancer et furent contraintes de rebrousser chemin vers la mer suivant l’itinéraire prévu par nos forces. En fin de compte, le corps d'armée commandé par Vũ Nạp remplit la mission confiée par le Duc commandant en chef, forçant plus de 600 grands navires de guerre ennemis à rebrousser chemin vers la rivière Đá Bạc, où ils furent conduits dans le champ de pieux et anéantis par nos troupes en embuscade.
La deuxième personnalité dont je voudrais parler est un célèbre général de Quang Trung, le grand amiral Võ Văn Dũng. Aux côtés des chefs de la rébellion des Tây Sơn dès les premiers jours du soulèvement, Võ Văn Dũng et Trần Quang Diệu ont toujours été les deux bras droits de Nguyễn Huệ et ont participé à pratiquement toutes les campagnes militaires importantes des forces Tây Sơn. L’empereur Quang Trung disait souvent que Võ Văn Dũng était son homme de confiance. Ce général de renom fut élevé au rang de grand amiral ; au sein de l’administration civile, il fut nommé grand chancelier (Đại Tư đồ). Outre ses talents de stratège militaire, il était également un diplomate accompli. Immédiatement après avoir infligé une défaite cuisante à l’armée des Qing au printemps de l’année Kỷ Dậu (1789), prévoyant que l’ennemi, amer, reviendrait en force pour se venger, l’empereur Quang Trung envoya sans tarder une délégation diplomatique dirigée par Võ Văn Dũng afin de négocier et d’atténuer quelque peu l’humiliation subie par la Cour impériale. En conséquence, l’habileté diplomatique de Võ Văn Dũng « aida » la dynastie Qing à trouver un prétexte pour renoncer à une guerre de vengeance. Au cours de cette rencontre, Võ Văn Dũng a pu constater de ses propres yeux la frayeur des troupes Qing face aux insurgés Tây Sơn. C’est précisément pour cette raison que l’empereur Quang Trung l’envoya en mission pour la deuxième fois avec des exigences fermes. Malheureusement, alors que les revendications de la dynastie Tây Sơn évoluaient en faveur du Vietnam, l'empereur Quang Trung vint à décéder.
Le troisième personnage de la lignée Võ que nous souhaitons évoquer est Võ Duy Dương (souvent appelé « Thiên Hộ Dương » dans les annales). Originaire de Bình Định, il était venu défricher des terres à Đồng Tháp Mười et avait été nommé « Thiên hộ » par la cour. Bien qu’officier militaire, il était passionné de littérature et s’était lié d’amitié avec Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân). Lorsque la cour des Nguyễn signa le traité de 1862, il s’allia avec Nguyễn Hữu Huân et Trương Định pour organiser la résistance contre les Français. Conscient de la situation défavorable en termes d’effectifs et de l’attitude timorée de la dynastie des Nguyễn, il mit son intelligence au service d’un plan stratégique visant à reconquérir les trois provinces de l’Est par la ruse. Malheureusement, avant que ce plan ne pût être mis à exécution, il mourut alors qu’il se rendait à la capitale, Huế.
On pourrait citer bien d’autres commandants militaires portant les noms Vũ ou Võ qui ont contribué à la lutte de la nation contre l’invasion étrangère. À des degrés divers, ils présentent tous des traits communs avec les trois personnages mentionnés ci-dessus : avant de s’engager dans la voie militaire, ils étaient tous des lettrés érudits, passionnés par les lettres et la littérature. Une fois devenus chefs de guerre, ils recouraient fréquemment à leur intelligence pour élaborer des stratagèmes visant à anéantir l’ennemi, plutôt que de se limiter à la simple force des armes.
Le général Võ Nguyên Giáp incarnait la tradition d’excellence tant dans les arts martiaux que dans les lettres propre à la lignée Vũ - Võ. Né et élevé sur une terre riche en traditions, le général Võ Nguyên Giáp a été nourri au sein d’une famille aux mœurs nobles, dont le père et la mère étaient tous deux pétris de compassion et de patriotisme, éduquant leurs enfants avec une grande rigueur. Le père du général, M. Võ Quang Nghiêm, était un instituteur rural modeste qui exerçait également comme médecin traditionnel dans le village d’An Xá, commune de Lộc Thủy, district de Lệ Thủy, province de Quảng Bình. Il évoquait souvent le mouvement de résistance contre les Français à travers la complainte populaire « La chute de la capitale », qui marqua profondément l’esprit du général. La mère du général, Mme Nguyễn Thị Kiên, était issue d’une famille forte d'une tradition de patriotisme et de lutte contre l’invasion étrangère. Son grand-père maternel était un chef de file du mouvement Cần Vương à la tête d’une province. Dès son plus jeune âge, le général entendit sa mère lui raconter les récits sur le régent Tôn Thất Thuyết accompagnant le roi dans la promulgation de l’édit Cần Vương, appelant les lettrés et le peuple à se soulever contre les Français pour défendre la patrie. Ce sont précisément ces influences à la fois intimes et profondes qui ont contribué à forger sa volonté inébranlable au service de sa carrière révolutionnaire ultérieure.
La rencontre historique avec le leader Nguyễn Ái Quốc en 1940 détermina le cours de sa vie. Très tôt, le leader Nguyễn Ái Quốc avait perçu que les qualités, l’intelligence, le talent ainsi que la personnalité de Võ Nguyên Giáp correspondaient parfaitement à l’armée qu’il souhaitait bâtir pour conquérir et préserver le pouvoir révolutionnaire. Il s’agissait d’une armée devant puiser sa force dans le peuple, capable de vaincre l’ennemi non seulement par les armes et la stratégie militaire, mais aussi par l’intelligence et la culture. Le chef de cette armée devait allier les vertus civiles et militaires, posséder une érudition vaste et faire preuve d’une profonde humanité. En 1944, Võ Nguyên Giáp s’est vu officiellement confier la responsabilité de créer la force armée révolutionnaire baptisée « Brigade d'information armée pour la libération du Vietnam » (Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân). Dès lors, à la tête de cette armée, Võ Nguyên Giáp est devenu un général invaincu. Au-delà de son génie militaire, il est aisé de reconnaître en lui un général guidé par l'intelligence et la bienveillance, fruits des plus nobles traditions de sa nation, de sa terre natale et de sa lignée.
Bien qu'étant le général Võ (Martial), il choisit le pseudonyme de Văn (Lettres/Culture), ce qui témoignait clairement de la stature d’un intellectuel empreint d’humanisme. Le général a été le premier à insister auprès des historiens sur la nécessité d’adopter une approche culturelle lorsqu’ils étudient l’histoire de la lutte du Vietnam contre les envahisseurs étrangers, plutôt que de se limiter au seul prisme militaire. En 1998, j’ai eu la chance d’assister le professeur Phan Huy Lê dans l’organisation du Premier Colloque International d’Études Vietnamiennes. Ce fut un grand honneur pour le colloque que le général acceptât d’y participer et de présenter une communication lors de la séance plénière. C’est également grâce à cela que j’ai eu l’occasion de me rendre au 30, rue Hoàng Diệu pour recueillir ses directives. Lors de l’une de ces rencontres, j’ai appris l’une de ses grandes pensées : « L’art militaire vietnamien relève du domaine de la culture ». Au premier abord, je n’avais pas tout à fait saisi, mais le général m’expliqua paisiblement : « La culture, c’est l’ensemble des créations humaines visant à assurer la survie et le développement de la communauté. Dans l’histoire du Vietnam, l’édification de la nation a toujours été indissociable de sa défense ; de génération en génération, nous avons dû nous lever, prendre les armes et déployer tout notre talent et notre intelligence pour protéger l’indépendance nationale. Toutes ces créations dans le domaine militaire visent la pérennité de la nation et du pays ; si ce n’est pas de la culture, qu’est-ce que c’est ? » J’ai partagé ce récit avec de nombreuses personnes, et toutes s’accordaient à dire que le général n’était pas seulement un grand stratège, mais aussi un penseur et un grand homme de culture.
Au cours de la préparation du colloque, le général nous a également exposé ce qui, selon lui, constituait des questions auxquelles les chercheurs en études vietnamiennes, tant nationaux qu’internationaux, n’avaient pas encore apporté de réponse satisfaisante ; il a même affirmé qu’« il existe de nombreux événements et périodes qui restent inexplicables ».
Il s’agit tout d’abord du phénomène selon lequel la nation vietnamienne, après avoir perdu son indépendance, fut placée sous le joug de dynasties féodales puissantes sur le plan militaire, riches en ressources et d'un niveau de civilisation élevé… pendant une longue période de plusieurs milliers d’années, sans pour autant être assimilée. C’est là, selon le général, un cas unique dans l’histoire de l’humanité qu’il convient de soumettre à de plus amples recherches pour l’expliquer.
Deuxièmement, il s’agit de la force extraordinaire déployée par le peuple vietnamien lors des luttes de résistance contre les envahisseurs étrangers. Presque toutes les armées venues envahir notre pays au cours de l’histoire étaient très puissantes et redoutables, certaines étant réputées capables de faire trembler le monde. Au XIIIe siècle, ce fut l’armée des Yuan-Mongols, une force qui avait conquis l’ensemble du continent eurasien pour bâtir l’empire territorial d’un seul tenant le plus vaste de l’histoire. Cette armée essuya pourtant trois défaites face au peuple vietnamien. Le général soulignait qu’il était impossible d’expliquer ce phénomène de manière simpliste. Seule une compréhension profonde de l’histoire permet d’expliquer pourquoi nous avons vaincu les États-Unis, l’empire le plus puissant du monde, une puissance devant laquelle, avant sa défaite lors de la guerre du Vietnam, n’importe quel pays, y compris les grands empires, hésitait et reculait.
Les enseignements du général me donnaient l’impression d’assister à un cours dispensé par un historien érudit, et une fierté indescriptible m’envahissait spontanément. Outre ses dons innés, tout ce que le général possédait découlait d’un travail d'accumulation de connaissances, tant à l’école que sur le terrain. Il avait été étudiant à l’Université d’Indochine, ancêtre de l’Université Nationale de Hanoï, berceau de formation des talents. Ma fierté tenait aussi au fait que le général aimait l’histoire et avait choisi le métier d'historien. Il disait souvent que, s’il n’y avait pas eu la guerre, il aurait enseigné l’histoire. C’est sans doute pour cette raison qu’il accepta la présidence d’honneur de l’Association des Sciences Historiques du Vietnam. La communauté des historiens du pays tout entier considérait cela comme un honneur immense. La dimension intellectuelle et humaniste du général puisait une part de ses racines dans cet attachement.
Il est un événement qui m’a profondément marqué : c’est lorsque j’ai pu entendre directement le général raconter pourquoi il avait décidé d’adopter la devise “combattre à coup sûr, avancer à coup sûr” (đánh chắc, tiến chắc) au lieu de “attaquer rapidement, gagner rapidement” (đánh nhanh, thắng nhanh). Le monde entier découvrit le général Võ Nguyên Giáp après la victoire de Điện Biên Phủ qui ébranla la planète. Je connaissais moi-même par cœur de nombreux détails de cet événement historique majeur, et j’étais particulièrement impressionné par cette exigence de victoire certaine et par la décision d’opter pour la stratégie « combattre à coup sûr, avancer à coup sûr ». Jusqu’alors, je considérais simplement cela comme une décision éclairée, hissée au rang d'art par un génie militaire. Il s’avéra que ce qui avait poussé le général à passer de nombreuses nuits blanches avant d’arrêter sa décision ne résidait pas uniquement dans la « certitude de la victoire », mais découlait de sa compassion constante pour le sang et la vie de ses soldats. Rares sont les généraux de renom qui témoignent d’une telle bonté et d’un tel amour envers leurs hommes, car l'adage « pour la gloire d'un général, des milliers d'os sont réduits en poussière » (nhất tướng công thành vạn cốt khô) est une philosophie communément admise, une loi de la guerre. C’est assurément mû par une telle sensibilité et un tel altruisme qu’une fois la guerre terminée, il consacra une grande partie de sa réflexion à la culture.
En 1972, lorsque les États-Unis utilisèrent des B-52 pour bombarder Haïphong et la capitale Hanoï, j’étais en poste à Quảng Bình, et un souvenir ne m’a jamais quitté. Un jour, alors que je m’acquittais de ma mission de collecte d’informations auprès des radios occidentales, une nouvelle me laissa sous le choc, le corps littéralement paralysé. Je n’en croyais pas mes oreilles. Puis, ce ne fut plus une seule, mais plusieurs stations étrangères qui relayèrent coup sur coup la terrible nouvelle : le général Võ Nguyên Giáp aurait péri sous les bombes des B-52 lors d’une tournée d’inspection sur un site de missiles… Aucun d’entre nous ne voulait croire cela, mais sans trop savoir pourquoi, nous fondîmes tous en larmes, sanglotant comme si nous venions de perdre l’être le plus cher. Le Comité central devait s’en doute en être conscient, car dès le lendemain, la Radio la Voix du Vietnam et l’Agence de presse vietnamienne diffusèrent en boucle des dépêches signalant que le général inspectait les unités… Notre joie fut immense, au point de nourrir un tel optimisme que nous avions la sensation que la libération du Sud était désormais imminente. C’est ainsi que l'on measure la place d’exception qu'occupait le général dans le cœur des soldats.
Exactement dix ans plus tard (en 1982), à Moscou, j’eus l’honneur de rencontrer le général en sa qualité de vice-président du Conseil des ministres chargé des Sciences et des Technologies. À l’époque, j’avais été envoyé en doctorat à l’Université Lomonossov. Sans que j'en susse la raison, après la réunion collective avec les représentants des doctorants et stagiaires de haut niveau, le général me demanda de rester pour un entretien individuel. Quelle joie d'avoir pu, au cours de cette audience précieuse, recevoir les conseils et recommandations du général ! Ce fut aussi une chance inouïe, lors de cet événement majeur dans ma vie, de côtoyer à la fois le général et le professeur Đặng Bích Hà, son épouse. Ce dont je me souviens aujourd’hui encore, c’est que lorsque je racontai au couple que mes camarades d’unité avaient pleuré à chaudes larmes en apprenant la fausse nouvelle de sa mort, je m'attendais à ce qu’il en rît comme d’une anecdote plaisante ; au contraire, très ému, il déclara : « Nos camarades sont tellement formidables », ce qui me laissa profondément ému. Le général avait été réellement touché par ce témoignage authentique de l’affection que lui vouaient ses soldats.
Il est impossible d’exprimer pleinement par des mots la grandeur de notre général légendaire. Que le général soit un génie militaire est une évidence universellement admise. Ce talent s’est nourri de la tradition culturelle et de la ténacité de la nation, de sa province natale de Quảng Bình, de sa lignée ainsi que de l’influence profonde de sa famille, en particulier celle de ses parents. Ce génie côtoya très tôt des patriotes animés d’un amour ardent pour la patrie, et fut tout particulièrement guidé, formé et inspiré par le leader Hồ Chí Minh. Dans le monde, il est malaisé de trouver un général aussi illustre, victorieux dans tous ses combats face à des ennemis redoutables et infiniment plus puissants, mais doté d’un cœur aussi altruiste, bienveillant et d’une simplicité aussi grande que celle du général Võ Nguyên Giáp.
L’histoire du Vietnam compte des héros nationaux devenus des figures saintes et vénérées, tels que les deux sœurs Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… Du plus profond de mon cœur, je suis convaincu que le général Võ Nguyên Giáp vivra à jamais et demeurera une figure sacrée gravée dans le cœur du peuple.






0 Comments
Chua co binh luan duoc duyet.